
DAVantage
Nghịch lý của nền dân chủ: Quyền được lên tiếng, nhưng không được lắng nghe
%2026.png)
1. Lời hứa dân chủ về tiếng nói tự do
. . . . Quyền hội họp hòa bình là một trụ cột thiết yếu của xã hội dân chủ, nhằm đảm bảo người dân được tự do lên tiếng và tích cực tham gia vào đời sống chính trị - xã hội [1]. Các văn kiện nhân quyền quốc tế như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR), Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR) đều đã công nhận đây là một quyền con người cơ bản.
. . . . Tuy nhiên, thực tế cho thấy tiếng nói biểu tình tại các nền dân chủ đang bị lấn át mạnh mẽ, bởi sự đàn áp và cản trở pháp lý từ chính phủ - ngay cả với tụ họp hòa bình. Trong năm 2025, các cuộc biểu tình về biến đổi khí hậu hay xung đột tại Palestine đã ghi nhận việc cảnh sát bắt giữ, truy tố, sử dụng vũ lực và áp dụng các lệnh cấm gây ảnh hưởng tới hàng ngàn người biểu tình, phóng viên và người đi đường [2]. Ngoài ra, nhiều chính phủ - như châu Âu, Bắc Mỹ và Úc - đã ban hành các đạo luật giới hạn quyền hội họp, điển hình là Dự luật Tội phạm và Cảnh sát 2025 tại Anh. Các văn bản này đã tạo nên rào cản pháp lý với quyền hội họp, giảm khả năng lấy giấy phép biểu tình, và mở rộng quyền lực cảnh sát [3].
. . . . Để hợp lý hóa sự đàn áp, các chính phủ thường viện dẫn trách nhiệm đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự công cộng, thậm chí coi hội họp như một dạng “khủng bố” [4]. Ta cần hỏi rằng: Liệu điều này có thật sự mang đến an ninh và phát triển cho xã hội dân chủ, hay sẽ thổi bùng hơn nữa làn sóng phản kháng của người dân?
2. Phép thử cho một nền dân chủ
. . . . Những bất mãn không biến mất chỉ vì không được lắng nghe. Ngược lại, trong nhiều trường hợp, chúng còn được thổi bùng lên, đặt ra các thách thức đối với những giá trị, nguyên tắc mà các nền dân chủ đang cố gắng bảo vệ. Trước hết, niềm tin vào các giá trị và thiết chế dân chủ sẽ dần bị xói mòn. Qua hàng nghìn năm thực tiễn, các định nghĩa, quan điểm về dân chủ có thể khác nhau ít nhiều. Tuy nhiên, về cơ bản, một nền dân chủ được thiết lập, tồn tại và phát triển trên cơ chế quyền lực thuộc về số đông, với mục tiêu cuối cùng là phục vụ lợi ích của công chúng [5]. Các cuộc biểu tình, xét ở góc độ này, đóng vai trò như một "phép thử", qua đó thể hiện mức độ mà một hệ thống dân chủ có thể nhận diện và xử lý các thách thức đặt ra từ xã hội. Do đó, một khi các hình thức hạn chế các cuộc tụ họp hòa bình được áp dụng, các cơ quan công quyền đã vô tình gửi đi thông điệp rằng hệ thống đang vận hành để bảo vệ chính nó chứ không phải người dân của họ. Điều này tạo ra một nghịch lý: những nỗ lực nhằm kiểm soát các bất đồng quan điểm với mục tiêu bảo vệ an ninh có thể vô tình làm xói mòn chính sự tín nhiệm của số đông, vốn là nền tảng cốt yếu quyết định tính chính danh của một nền dân chủ. Ngoài ra, việc hạn chế các quan điểm bất đồng còn là mầm mống dẫn đến sự cực đoan hóa các xung đột xã hội. Khi các kênh đối thoại chính thống không còn hiệu quả, "chiếc van xả áp" cần thiết để duy trì sự cân bằng xã hội đã vô tình bị chặn đứng. Hệ quả tất yếu là sự chuyển dịch từ biểu tình ôn hòa sang các hình thức đối đầu quyết liệt, thậm chí cực đoan hơn, chẳng hạn như bạo lực đường phố, phá hoại tài sản công, hoặc các cuộc đối đầu với lực lượng chức năng, tạo ra một vòng tròn vô định; ở đó sự áp đặt làm gia tăng sự phẫn nộ, và sự phẫn nộ lại trở thành cái cớ cho những cuộc biểu tình quyết liệt, gay gắt hơn. [6]
3. Kiểm soát có thật sự hại tới vậy?
. . . . Nhưng như triết gia nổi tiếng thế kỷ 18 Montesquieu từng nói, “Tự do là quyền được làm những gì pháp luật cho phép”, quyền biểu tình cũng cần có giới hạn. Tự do không chỉ là đòi hỏi của người biểu tình, mà còn là mong muốn chung của xã hội. Khi người biểu tình thực hiện việc lock-on (khóa chặt mình vào một vật thể nào đó để không dễ bị di dời), sit-in (biểu tình bất bạo động) hoặc cố tình chặn đường giao thông dưới mác “tự do ngôn luận”, đó không còn là tự do nữa, mà là sự xâm phạm quyền của những người không tham gia biểu tình [7].
. . . . Các quy định liên quan tới biểu tình không phải là những biện pháp độc đoán của những cơ quan thực thi pháp luật để “bịt miệng” người biểu tình, mà là những biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền của cả những người biểu tình và không biểu tình tại nơi công cộng [8]. Kể cả trong khuôn khổ của Luật Nhân quyền Quốc tế (đặc biệt là ICCPR), vốn là hình mẫu bảo vệ nhân quyền, một số hạn chế nhất định cũng được cho phép để cân bằng lại trật tự công cộng và an toàn cá nhân trong những thời điểm có biến động về chính trị hoặc xã hội [9].
4. Để cuộc đối thoại được bắt đầu
. . . . Như vậy, quyền được lên tiếng từ lâu đã được coi là một trong những nền tảng quan trọng trong một xã hội dân chủ. Tuy nhiên, quyền ấy chỉ thực sự có ý nghĩa khi tiếng nói của công dân thực sự được lắng nghe và tôn trọng. Vì thế, điều cần thiết không phải chỉ là đảm bảo quyền được nói, mà còn là xây dựng môi trường, các biện pháp khiến việc lắng nghe trở thành một phần của quá trình xây dựng xã hội, nơi mà công dân đang sinh sống [10]. Không một cá nhân nào nên ngần ngại vì sợ rằng mình sẽ không được lắng nghe, hay lo ngại về những phản hồi mang tính bạo lực trước lời nói ấy. Một nền văn hóa đối thoại lành mạnh là nơi tiếng nói không bị bỏ mặc hay gạt sang bên lề, mà là một môi trường để lời nói được phát huy hết sức mạnh của nó.
. . . . Sau cùng, giá trị của quyền tự do ngôn luận là gì nếu phản hồi của mọi tiếng nói là im lặng?
(Đăng tải vào 03/2026)
TÁC GIẢ
Đoàn Thuỳ Dương - sinh viên Khoa Luật quốc tế, Khóa 52, Học viện Ngoại giao;
Lê Minh Hiếu - sinh viên Khoa Luật Quốc tế, Khóa 52, Học viện Ngoại giao;
Nguyễn Thị Kim Ngân - sinh viên Khoa Luật quốc tế, Khóa 52, Học viện Ngoại giao;
Lê Nguyễn Bảo Anh - sinh viên Khoa Chính trị quốc tế & ngoại giao, Khóa 51, Học viện Ngoại giao.
THIẾT KẾ ĐỒ HỌA
Nguyễn Vân Anh, sinh viên ngành Thiết kế đồ hoạ, Khóa 20, Trường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Haji Ingiriis, M. (2013, July 31). View of The History of Somali Piracy: From Classical Piracy to Contemporary Piracy, c. 1801-2011. The Northern Mariner. https://tnm.journals.yorku.ca/index.php/default/article/view/283/265
-
Lucas, E. (2013). Somalia’s “Pirate Cycle”: The Three Phases of Somali Piracy. Journal of Strategic Security, 6(1), 55–63. https://doi.org/10.5038/1944-0472.6.1.5
-
Mamouni, K. (2025). Somali Piracy: A Simple Flare-up or a Rising Threat? Policy Center. https://www.policycenter.ma/publications/somali-piracy-simple-flare-or-rising-threat
-
United Nations Security Council. (2008). Resolution 1816. https://digitallibrary.un.org/record/627953?v=pdf
-
OCEANS BEYOND PIRACY. (2013). THE ECONOMIC COST OF SOMALI PIRACY, 2012. https://development.oneearthfuture.org/sites/default/files/documents/publications/View%20Full%20Report_3.pdf
-
International Maritime Bureau and Oceans Beyond Piracy. (2012). The Human Cost of Somali Piracy 2011. https://development.oneearthfuture.org/sites/default/files/documents/publications/View%20Full%20Report_2.pdf
-
Joubert, L. (2020, July 10). State of Maritime Piracy: 2019. Stable Seas - One Earth Future. https://www.stableseas.org/post/state-of-maritime-piracy-2019
-
Boenisch, F. (2022, June 30). Maritime piracy at the Horn of Africa: The role of international organizations in global crime governance. Leiden University. https://studenttheses.universiteitleiden.nl/handle/1887/3487382
-
Madsen, Jens, and Liza Kane-Hartnett. 2014. “Towards a Regional Solution to Somali Piracy Challenges and Opportunities.” ASPJ Africa & Francophonie. https://www.airuniversity.af.edu/Portals/10/ASPJ_French/journals_E/Volume-05_Issue-3/Madsen_Kane_e.pdf.
-
“About ReCAAP,” ReCAAP, http://www.recaap.org/AboutReCAAPISC.aspx
